Hạ Tầng Kỹ Thuật Đô Thị là gì ? Những Điều mọi người nên biết

Cống Thoát Nước

Chúng ta hay nghe trên tivi hay nói tới việc phải phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị . Nhưng hầu như chúng ta không hiểu hay chỉ hiểu nôm na. Hạ tầng đô thị ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của mọi người dân sống trong đô thị.

Hôm nay địa ốc Z sẽ cùng bạn tìm hiểu về Hạ tầng kỹ thuật đô thị.

Hạ tầng kỹ thuật đô thị là gì ?

Theo quy định tại Mục 1.2 Quy chuẩn xây dựng Việt Nam QCXDVN 01:2008/BXD về quy hoạch xây dựng do Bộ Xây dựng ban hành thì Hạ tầng kỹ thuật đô thị được quy định như sau:

Hạ tầng kỹ thuật đô thị gồm:

– Hệ thống giao thông;

– Hệ thống cung cấp năng lượng;

– Hệ thống chiếu sáng công cộng;

– Hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước;

– Hệ thống quản lý các chất thải, vệ sinh môi trường;

– Hệ thống nghĩa trang;

– Các công trình hạ tầng kỹ thuật khác.

Như vậy sống trong một khu đô thị chúng ta nên tìm hiểu về hạ tầng đô thị. Hạ tầng đô thị trực tiếp ảnh hưởng tới cuộc sống của mọi người dân trong đô thị. Cùng nhau hiểu để xây dựng đô thị phát triển. Trong đó có việc phát triển hạ tầng đô thị.

Hạ tầng kỹ thuật đô thị và Hạ tầng xã hội 

Đây là 2 khái niệm khác nhau. Chúng cùng nhau là bộ mặt của đô thị. Liên kết và gắn bó chặt chẽ mật thiết với nhau.

Hạ tầng xã hội đô thị gồm:

– Các công trình nhà ở;

– Các công trình công cộng, dịch vụ: y tế, văn hóa, giáo dục, thể dục thể thao, thương mại và các công trình dịch vụ đô thị khác;

– Các công trình quảng trường, công viên, cây xanh, mặt nước;

– Các công trình cơ quan hành chính đô thị;

– Các công trình hạ tầng xã hội khác.

Thực trạng hạ tầng đô thị tại Việt Nam

Việt Nam là đất nước đang có tốc độ đô thị hóa tăng nhanh. Vấn đề phát triển hạ tầng đô thị luôn đòi hỏi cấp thiết, chứa đựng nhiều bức xúc chưa được giải quyết. Các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh đang đối mặt với các vấn đề hạ tầng kỹ thuật đô thị. Về giao thông ùn tắc, thoát nước kém, môi trường đô thị chưa đảm bảo… Các đô thị nhỏ lại có những vấn đề về thu hút nguồn lực để phát triển. Mâu thuẫn giữa đầu tư hạ tầng và tính hiệu quả, nhiều dự án treo khai thác kém.

Giao thông đô thị phát triển mạnh

Nhiều con đường mới được xây dựng, chất lượng đường đô thị dần tốt hơn. Các đô thị loại III trở lên đã có hầu hết các tuyến đường chính được rải nhựa, nâng cấp. Giao thông được xây dựng tương đối đồng bộ với hệ thống thoát nước, hè đường, chiếu sáng và cây xanh

Tại các đô thị lớn như Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ, nhiều dự án về giao thông đô thị được triển khai. Cải tạo, nâng cấp và xây mới các trục giao thông. Các nút giao cắt, đường vành đai đã bước đầu nâng cao năng lực tại các đô thị.

Giao thông công cộng đã, đang hình thành và phát triển tại các đô thị. Các thành phố, thị xã đã tổ chức các tuyến giao thông công cộng xe bus phục vụ người dân . Đặc biệt tại hai thành phối lớn như Hà Nội và TP.HCM, giao thông công cộng đang là phương tiện không thể thiếu được. Hai thành phố lớn nhất cả nước này đang triển khai xây dựng giao thông vận tải khối lượng lớn như tàu điện ngầm, xe buýt nhanh.

Cấp thoát nước đô thị

Các đô thị đều đã và đang có các dự án đầu tư cải tạo, nâng cấp mở rộng hệ thống cấp nước. Nhu cầu cấp nước về cơ bản đáp ứng yêu cầu.

Tính đến cuối năm 2009, tổng công suất thiết kế cấp nước đạt khoảng 5,9 triệu m3/ngđ. Tỷ lệ thất thoát thất thu giảm đáng kể, trung bình hiện nay khoảng 30%. Tỷ lệ cấp nước của dân đô thị đạt trung bình 73% (tỷ lệ này đạt 75-90% tại các đô thị lớn như Hà Nội đạt 88,5% và TP.HCM đạt 87%). Mức sử dụng nước sạch bình quân đạt 90 lít/người/ngđ.

Việc đầu tư chỉ mới quan tâm đến trạm, nhà máy. Hệ thống phân phối, bao gồm cải tạo hệ thống cũ, mở rộng mạng mới chưa được quan tâm đầy đủ. Công suất khai thác tại nhiều nhà máy nước mới chỉ đạt khoảng 77% so với công suất thiết kế.

Thoát nước đô thị đang là vấn đề đau đầu tại nhiều thành phố. Quá trình đô thị hóa, bê tông hóa diễn ra nhanh. Hệ thống thoát nước vốn được quy hoạch thiếu sót đã không đủ đáp ứng. Thường xuyên ngập lụt ở các thành phố lớn mỗi khi mưa xuống.

Hệ thống quản lý chất thải vệ sinh môi trường

Chất thải rắn ở đô thị ngày càng có những diễn biến phức tạp. Chất thải từ các nguồn như sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, y tế, làng nghề và sinh hoạt đô thị. Rác đang ngày càng tăng nhanh về chủng loại, số lượng và tính độc hại. Tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trung bình đạt 21.000 tấn/ngày. Chôn lấp vẫn là hình thức phổ biến với số lượng trung bình 1 bãi chôn lấp đô thị.

Hiện tại, khoảng 85% số đô thị từ thị xã trở lên sử dụng biện pháp chôn lấp. Không hợp vệ sinh gây ô nhiễm môi trường, tốn nhiều diện tích đất. Vấn đề quản lý chất thải rắn, đặc biệt là xử lý rác, nước rác được quan tâm. Tình trạng ô nhiễm môi trường đô thị, vùng ven đô thị và môi trường xung quanh các cơ sở xử lý rác đang được quan tâm. Lựa chọn địa điểm để xây dựng cơ sở xử lý chất thải rắn cũng đang là vấn đề nan giải.

Chất lượng chiếu sáng đô thị chưa cao

Tất cả các đô thị của nước ta đều có điện chiếu sáng với mức độ khác nhau. Tại các đô thị loại đặc biệt và loại I có 95-100% các tuyến đường chính được chiếu sáng. Trong khi đó, các đô thị loại II, III tỷ lệ này chiếm gần 90%. Các đô thị loại IV và loại V tập trung chiếu sáng đường phố chính chủ yếu là những đoạn quốc lộ, tỉnh lộ đi qua đô thị.

Chất lượng chiếu sáng chưa cao. Hiệu suất sáng, cường độ sáng, độ rọi không đảm bảo tiêu chuẩn. Tỷ lệ ngõ xóm được chiếu sáng còn rất thấp. Ngay tại đô thị đặc biệt tỷ lệ này cũng chỉ chiếm khoảng 35 – 40%. Các đô thị loại IV, V hầu như tất cả ngõ xóm đều không được chiếu sáng.

Chiếu sáng các công trình kiến trúc, chiếu sáng quảng cáo, không gian cây xanh mặt nước… Vẫn còn mang tính tự phát, manh mún, tuỳ tiện. Thiết bị chiếu sáng hiệu suất thấp, tiêu tốn điện.

Cây xanh đô thị

Diện tích cây xanh ở đô thị vừa có sự tăng và giảm. Tăng ở trên các tuyến đường, cây xanh che bóng mát, công viên. Giảm vì chặt cây để có đất xây dưng. Các công trình bê tông dần thay thế các mảng xanh.

Trong những năm tới phải trồng thêm nhiều cây xanh cho bóng mát. Đa dạng các loại cây, hoa. Cây hoa đẹp đường phố.

Tỷ lệ bình quân diện tích đất cây xanh/ đầu người còn thấp. Phần lớn dưới 10m2/người (Hà Nội đạt 5,54m2/người). Tỷ lệ diện tích đất cây xanh/ diện tích đất tự nhiên đô thị cũng thấp. Nếu so với các đô thị trong khu vực và trên thế giới thì tỷ lệ thấp hơn rất nhiều.

Quản lý về cây xanh vẫn còn lỏng lẻo. Tình trạng chặt phá cây đặc biệt các cây quý hiếm nằm trong nhóm phải được bảo tồn vẫn diễn ra. Nhiều đô thị tiến hành công tác cải tạo, nâng cấp và mở rộng đường phố dẫn đến việc chặt hạ cây.

Quy hoạch phát triển bền vững 

Sự phát triển bền vững của hạ tầng phụ thuộc vào sự hợp lý của cấu trúc quy hoạch của đô thị

Phát triển hạ tầng phải tính đến hiệu quả cuối cùng, không chỉ đánh giá trên quy mô hay khả năng chuyên chở, phục vụ của hệ thống.

Không thể nói chắc rằng một đô thị có hệ thống tàu điện ngầm là một đô thị có hạ tầng tốt. Hay một đô thị có hệ thống thu gom rác quy mô lớn là một đô thị có môi trường sạch sẽ.

Phát triển hạ tầng mà phải nhìn nhận trên hiệu quả lưu thông, hiệu quả vận hành, đáp ứng. Chi phí thấp mà hiệu quả, khoảng cách di chuyển ngắn. Đóng góp cho quan hệ xã hội của đô thị tăng lên, còn tạo điều kiện cho môi trường đô thị được trong sạch, giảm lượng giao thông.

Hạ tầng khung đi trước một bước (có thể từ 2-5 năm).

-Giảm chi phí đầu tư do phải đền bù giải phóng mặt bằng. Phát triển hạ tầng đi đôi với phát triển quỹ đất sạch hai bên đường cho các dự án đô thị có hiệu quả. Chính sách thu gom đất tái phân lô, hình thành hạ tầng đi kèm với điều chỉnh đất. Giảm tối đa các miếng đất nhỏ, méo. Chính sách thuế thu từ sự gia tăng các giá trị đất do hạ tầng mang lại. Đảm bảo sự công bằng xã hội và mang lại một nguồn lực đáng kể cho đô thị. Huy động được các nguồn vốn xã hội. Người dân từ quan niệm là người sử dụng chuyển sang là người đồng với Nhà nước.

Một số ví dụ hạ tầng đô thị ở một số thành phố.

Ví dụ trường hợp của Tokyo. Mặc dù được đánh giá là có hệ thống tàu điện ngầm hiện đại bậc nhất thế giới, vận hành chính xác từng phút. Nhưng nhìn vào những cảnh chen chúc trên tàu, hối hả chuyển tàu của hàng triệu người như những đàn kiến khổng lồ giữa các chuyến tàu. Sự mệt mỏi trên những khuôn mặt của những người trên tàu biết rằng mình phải dành không ít hơn một giờ đồng hồ để đến được nhà.  Thì cũng chưa thể nói đó là hệ thống hạ tầng mẫu mực. Nếu so với một đô thị khác không có tàu điện ngầm mà người dân chỉ mất 30 phút để từ nhà đến nơi làm việc.

Hạ tầng đô thị đang bị chạy theo những nhu cầu đòi hỏi dường như vô tận. Những con đường cứ mở rộng dần, từ 2, 4, đến 8 và thậm chí nay đến cả 50 làn xe như ở Trung Quốc.

Kết luận

Xu hướng phát triển Hạ tầng xanh tích hợp giải quyết các mục tiêu của hạ tầng với các vấn đề môi trường, năng lượng cần được xây dựng như một Chiến lược phát triển hạ tầng trọng tâm trong giai đoạn tới.

Phương thức phát triển hạ tầng hợp lý có vai trò quyết định tới sự phát triển bền vững của đô thị chứ không chỉ nhìn nhận trên giải pháp thiết kế hay quy hoạch. Đây chính là khâu còn thiếu trong các chính sách quản lý phát triển đô thị, định hướng thiết kế, quy hoạch hiện nay.

Quy hoạch hạ tầng trong giai đoạn tới cần được thiết lập gắn kết với nguyên tắc quy hoạch cấu trúc đô thị trong mục tiêu phát triển đô thị bền vững. Xem xét lại sự phát triển thiếu kiểm soát, phi cấu trúc hiện nay, đảm bảo không phá vỡ những liên kết của hạ tầng với các chức năng chính của đô thị.

Hạ tầng phải có khả năng thích ứng, hoàn thiện với sự biến động của đô thị. Các giải pháp mềm, giải pháp thích ứng là một điều kiện trong quy hoạch hạ tầng thay vì chỉ đáp ứng các chỉ tiêu kỹ thuật cứng.https://diaocz.com/ngap-lut/

Hệ thống các chính sách để hỗ trợ các phương thức phát triển hạ tầng hiệu quả này cần được thiết lập để đảm bảo cho việc triển khai vào thực tiễn mạnh mẽ hơn nữa trong giai đoạn tới.

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *